Sau bài về 5 yêu cầu chất lượng thông tin trên Báo cáo tài chính (BCTC) ở Điều 18-19, bài này đi tiếp vào Điều 20 Thông tư 99/2025/TT-BTC – phần quy định 7 nguyên tắc lập và trình bày BCTC dành cho doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên tục. Trọng tâm của Điều 20 là cách phân loại tài sản và nợ phải trả thành ngắn hạn hay dài hạn – một việc tưởng đơn giản nhưng lại quyết định trực tiếp hình ảnh tài chính của doanh nghiệp trên Báo cáo tình hình tài chính.
📋 Mục Lục Bài Viết
Ba Nguyên Tắc Nền Tảng: Bản Chất, Thận Trọng, Tuân Thủ VAS 21
Khoản 1 đến khoản 3 Điều 20 đặt ra khung nguyên tắc chung trước khi đi vào chi tiết kỹ thuật:
Khoản 1 yêu cầu BCTC phải tuân thủ Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (Trình bày Báo cáo tài chính) và các chuẩn mực liên quan, đồng thời phải giải trình đầy đủ những thông tin trọng yếu giúp người đọc hiểu đúng tình hình tài chính doanh nghiệp.
Khoản 2 nêu nguyên tắc quen thuộc nhưng dễ bị bỏ qua trong thực tế: phản ánh đúng bản chất kinh tế của giao dịch hơn là chỉ dựa vào hình thức pháp lý của hợp đồng. Ví dụ một hợp đồng thuê tài sản có điều khoản chuyển quyền sở hữu khi hết hạn thì về bản chất là mua trả góp, dù tên gọi hợp đồng là thuê.
Khoản 3 quy định giới hạn ghi nhận giá trị: tài sản không được ghi nhận cao hơn giá trị có thể thu hồi, và nợ phải trả không được ghi nhận thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán thực tế. Đây chính là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc thận trọng khi lập BCTC.
Cách Phân Loại Tài Sản, Nợ Phải Trả Ngắn Hạn – Dài Hạn (Khoản 4)
Đây là phần dài và quan trọng nhất của Điều 20. Nguyên tắc chung: tài sản và nợ phải trả được phân loại theo tính thanh khoản giảm dần, dựa trên 4 tiêu chí song song cho từng loại.
Một khoản mục được xếp là tài sản ngắn hạn nếu thỏa 1 trong 4 điều kiện sau: dự kiến thu hồi hoặc bán trong 1 chu kỳ kinh doanh thông thường; được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại; dự kiến thu hồi trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán; hoặc là tiền và tương đương tiền (trừ khi bị hạn chế trao đổi, sử dụng trên 12 tháng).
Một khoản mục được xếp là nợ phải trả ngắn hạn nếu thỏa 1 trong 4 điều kiện tương tự: dự kiến thanh toán trong 1 chu kỳ kinh doanh thông thường; doanh nghiệp nắm giữ khoản nợ chủ yếu vì mục đích kinh doanh; đến hạn thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán; hoặc doanh nghiệp không có quyền từ chối nghĩa vụ thanh toán trong vòng 12 tháng đó (kể cả khi có thể trả bằng công cụ vốn theo quyền chọn của đối tác). Những khoản không thỏa các điều kiện trên được xếp vào dài hạn.
Ví dụ minh họa: Công ty X có khoản vay ngân hàng 500 triệu đồng, đến hạn trả sau 10 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán (31/12/2026) – khoản này được phân loại là nợ ngắn hạn. Nhưng nếu trước ngày 31/12/2026, Công ty X đã ký phụ lục hợp đồng gia hạn khoản vay này thành 24 tháng, thì khoản vay được ghi nhận là nợ dài hạn ngay từ đầu kỳ báo cáo.
Một điểm dễ nhầm: nếu việc gia hạn khoản nợ chỉ xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán nhưng trước ngày phát hành BCTC, đây được xem là sự kiện phát sinh sau không cần điều chỉnh – khoản nợ vẫn giữ nguyên phân loại ngắn hạn tại thời điểm lập báo cáo, chỉ cần thuyết minh thêm trên Bản thuyết minh BCTC.
Với các khoản nợ phải trả gắn liền với vốn lưu động trong chu kỳ kinh doanh thông thường (phải trả nhà cung cấp, chi phí phải trả cho nhân viên…), doanh nghiệp vẫn phân loại là ngắn hạn dù thời hạn thanh toán thực tế có thể vượt 12 tháng. Với doanh nghiệp không xác định rõ chu kỳ kinh doanh thông thường, Thông tư quy định mặc định chu kỳ này là 12 tháng.
Ngoài ra, khi lập BCTC, doanh nghiệp phải tái phân loại tài sản/nợ phải trả dài hạn của kỳ trước thành ngắn hạn của kỳ này nếu đến thời điểm hiện tại chúng đã thỏa điều kiện ngắn hạn nêu trên (trừ trường hợp Thông tư có quy định khác).
Không Bù Trừ, Trình Bày Riêng Biệt Và Hợp Nhất Đơn Vị Trực Thuộc (Khoản 5-7)
Khoản 5: tài sản và nợ phải trả phải trình bày riêng biệt trên BCTC, không được bù trừ cho nhau – trừ trường hợp chúng liên quan đến cùng một đối tượng, có vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn ngắn, và phát sinh từ các giao dịch, sự kiện cùng loại.
Khoản 6: doanh thu, thu nhập và các chi phí liên quan trực tiếp phải được trình bày theo nguyên tắc phù hợp và đảm bảo thận trọng. Nếu phát hiện BCTC của các kỳ trước có sai sót trọng yếu, doanh nghiệp phải điều chỉnh hồi tố theo quy định, không được sửa số liệu kỳ hiện tại để bù trừ sai sót cũ.
Khoản 7: doanh nghiệp có đơn vị trực thuộc phải tổng hợp thông tin tài chính của cả trụ sở chính và các đơn vị trực thuộc khi lập BCTC. Toàn bộ số dư các khoản mục nội bộ (công nợ nội bộ, doanh thu, chi phí, lãi/lỗ chưa thực hiện phát sinh từ giao dịch nội bộ) đều phải được loại trừ trước khi trình bày.
Câu Hỏi Thường Gặp
Khoản vay được gia hạn sau ngày kết thúc năm tài chính nhưng trước ngày ký BCTC thì phân loại thế nào?
Vẫn giữ nguyên phân loại ngắn hạn tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán, vì đây là sự kiện phát sinh sau không cần điều chỉnh số liệu – chỉ cần thuyết minh rõ trên Bản thuyết minh BCTC.
Doanh nghiệp không xác định được chu kỳ kinh doanh thông thường thì tính ngắn hạn/dài hạn theo mốc nào?
Theo Điều 20, nếu chu kỳ kinh doanh thông thường không thể xác định rõ ràng thì mặc định coi là 12 tháng để áp dụng các tiêu chí phân loại.
Tài sản, nợ phải trả có được bù trừ với nhau khi trình bày trên BCTC không?
Về nguyên tắc là không, trừ khi chúng liên quan đến cùng một đối tượng, có vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn ngắn và phát sinh từ giao dịch, sự kiện cùng loại.
Kết Luận
Điều 20 Thông tư 99/2025/TT-BTC cụ thể hóa cách phân loại tài sản, nợ phải trả ngắn hạn – dài hạn dựa trên bản chất kinh tế và tính thanh khoản, thay vì chỉ nhìn vào thời hạn ghi trên hợp đồng. Đây là kỹ năng nền tảng để trình bày đúng Báo cáo tình hình tài chính theo chuẩn mực mới. Xem lại bài trước về 5 yêu cầu chất lượng thông tin BCTC (Điều 18-19), hoặc bài tổng quan Thông tư 99/2025/TT-BTC để nắm toàn bộ lộ trình thay thế Thông tư 200/2014/TT-BTC. Bài tiếp theo trong chuỗi sẽ tiếp tục với Điều 21 trở đi về nguyên tắc lập BCTC khi thay đổi kỳ kế toán.
