Phần 03 – Sự khác biệt cơ bản giữa IFRS và VAS

Categories: Kế toán


Tiếp theo Phần 02 – Sự khác biệt cơ bản giữa IFRS và VAS

Một số nội dung khác biệt cơ bản giữa VAS và IFRS
Phần 3 - Sự khác biệt giữa IFRS và VAS

Phần 3 – Sự khác biệt giữa IFRS và VAS

 

1. Khuôn khổ về việc lập và trình bày Báo cáo tài chính
Nội dung Sự khác biệt
IFRS – Framework VAS 01
Khuôn khổ về việc  lập và  trình bày Báo cáo tài chính Framework được hiểu là bộ khung khái niệm hoặc khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính, không được phân loại là chuẩn mực kế toán và không được đánh số như các chuẩn mực kế toán khác. VAS 01 được xem là một chuẩn mực kế toán và được đánh số như các chuẩn mực kế toán toán khác (VAS 01 – Chuẩn mực chung)
Khuôn khổ này đưa ra những thay đổi về cách tiếp cận đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính của đơn vị theo hướng quy định các nội dung về:

  • Mục đích của báo cáo tài chính;
  • Đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích;
  • Định nghĩa, nguyên tắc ghi nhận và xác định giá trị các yếu tố của báo cáo tài chính cũng như các khái niệm về vốn và bảo toàn vốn.

 

Việc tiếp cận mới này dẫn đến bố cục của khuôn khổ có sự thay đổi lớn so với VAS 01 của Việt Nam hiện nay. Ví dụ thay đổi về các nguyên tắc kế toán cũng như các yêu cầu cơ bản đối với kế toán như tính nhất quán, kịp thời, đầy đủ, trung thực, khách quan….

Việt Nam đã ban hành Chuẩn mực kế toán số 01-Chuẩn mực chung (VAS 01) tương ứng với Khuôn khổ về việc lập và trình bày Báo cáo tài chính của quốc tế (Khuôn khổ). Tuy nhiên, giữa VAS 01 của Việt Nam và Khuôn khổ về việc lập và trình bày Báo cáo tài chính của quốc tế có một số điểm khác biệt.
Khuôn khổ bổ sung nguyên tắc kế toán: bản chất quan trọng hơn hình thức Thông tư số 200/2014/TT-BTC đã quy định về vấn đề này tương tự như thông lệ quốc tế nhưng VAS 01 hiện chưa được cập nhật nguyên tắc này.
Ngoài phương pháp kế toán theo giá gốc, khuôn khổ này còn quy định tài sản của doanh nghiệp có thể được ghi nhận theo giá trị hiện hành, giá trị có thể thực hiện được hoặc giá trị hiện tại.

  • Giá trị hiện hành: Tài sản được ghi nhận tương ứng với số tiền hoặc khoản tương đương tiền sẽ phải trả tại thời điểm hiện tại để có thể mua một tài sản tương tự.
  • Giá trị có thể thực hiện được (thỏa thuận): Tài sản được ghi nhận tương ứng với số tiền hoặc khoản tương đương tiền có thể thu được nếu bán tài sản đó tại thời điểm hiện tại.
  • Giá trị hiện tại: Tài sản được ghi nhận theo giá trị chiết khấu của dòng tiền ước tính thu được trong tương lai từ việc sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
VAS 01 chưa đề cập đến vấn đề này.
Khuôn khổ đề cập đến khái niệm về vốn và bảo toàn vốn của doanh nghiệp. VAS 01 chưa đề cập đến vấn đề này.

 

2. Chuẩn mực về hàng tồn kho

Việt Nam hiện đã ban hành Chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho (VAS 02) tương ứng với Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho (IAS 02). So với VAS 02, IAS 02 có điểm khác biệt chính sau đây:

Chuẩn mực Sự khác biệt
IFRS: IAS 02 VAS: VAS 02
Hàng tồn kho IAS 02 có loại trừ phạm vi áp dụng đối với công cụ tài chính, tài sản sinh học và các sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch. VAS 02 không có sự loại trừ về phạm vi áp dụng nên những tài sản có đặc thù riêng chưa được điều chỉnh và phản ánh đúng bản chất, trong một số trường hợp không có căn cứ để xác định giá trị, như:

  • Việc không loại trừ các công cụ tài chính phái sinh ra khỏi phạm vi của chuẩn mực này sẽ dẫn đến không phù hợp với các hợp đồng mua, bán sử dụng công cụ phái sinh (như hợp đồng tương lai, thỏa thuận kỳ hạn hoặc quyền chọn), không thể phản ánh hết các khoản lãi, lỗ phát sinh từ hợp đồng cũng như không phù hợp với các mô hình kế toán sử dụng công cụ phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro.
  • Tài sản sinh học của các hoạt động nông nghiệp như cây trồng, vật nuôi và  những sản phẩm chưa  qua chế  biến thu được  từ  tài sản sinh học (thịt, hoa màu, gỗ, mủ cao su…) cần được xác định theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán ước tính tại thời điểm thu hoạch theo thông lệ quốc tế chứ không được phản ánh như các loại hàng hóa khác.

 

3. Chuẩn mực về tài sản cố định
Chuẩn mực Nội dung Sự khác biệt
IFRS: IAS 16 VAS: VAS 03
Tài sản cố định (TSCĐ) Phạm vi áp dụng IAS 16 không áp dụng đối với Tài sản sinh học liên quan đến các hoạt động nông nghiệp; TSCĐ hữu hình được phân loại là tài sản dài hạn nắm giữ để bán. Việt Nam chưa ban hành chuẩn mực riêng cho các tài sản như Tài sản sinh học liên quan đến các hoạt động nông nghiệp; TSCĐ hữu hình được phân loại là tài sản dài hạn nắm giữ để bán,… nên vẫn áp dụng theo VAS 03, dẫn đến các tài sản chưa được phản ánh đúng bản chất và đặc thù, trong một số trường hợp không có căn cứ để xác định giá trị, như:

  • TSCĐ hữu hình được phân loại là tài sản dài hạn nắm giữ để bán trong điều kiện hoạt động không liên tục: Trong một số trường hợp, khi doanh nghiệp không còn dự kiến tiếp tục hoạt động, các TSCĐ không còn được sử dụng để tạo ra lợi ích kinh tế như trong điều kiện thông thường mà thay vào đó các tài sản này nằm ở trạng thái sẵn sàng để bán. Điều này dẫn đến cách thức thu hồi tài sản có sự khác biệt về bản chất (thu thanh lý) so với các TSCĐ khác và vì vậy, việc áp dụng các nguyên tắc kế toán của TSCĐ hữu hình không còn phù hợp.
  • Tài sản sinh học liên quan đến các hoạt động nông nghiệp: Các tài sản này như cây công nghiệp (cao su, hạt tiêu, café..) hoặc súc vật sinh sản (bò sữa, lợn giống…) có đặc điểm khác các TSCĐ thông thường do có thể sinh sôi nảy nở thêm trong quá trình sinh trưởng và dẫn đến các chi phí liên quan trực tiếp đến chăn nuôi, vun trồng không phản ánh được giá trị của các tài sản loại này. IAS 41 yêu cầu những tài sản sinh học phải được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán trong khi TSCĐ yêu cầu ghi nhận theo giá gốc là các chi phí liên quan trực tiếp tới việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Do đó việc không loại trừ tài sản sinh học ra khỏi VAS 03 làm cho các tài sản này chưa được phản ánh đúng bản chất trên báo cáo tài chính.
  • Quyền sử dụng đất: Theo IAS 16, quyền sử dụng đất được kế toán là TSCĐ hữu hình trong khi Việt Nam đang kế toán là TSCĐ vô hình với lí do đây là quyền sử dụng. Tuy nhiên, đất là một tài sản có hình khối cụ thể nên việc phân loại như Việt Nam do ảnh hưởng của tên gọi là chưa phù hợp với bản chất của tài sản. Mặt khác, nếu đất sử dụng để cho thuê lại được phân loại là bất động sản đầu tư cùng với cơ sở hạ tầng như một tài sản hữu hình dẫn đến việc phân loại tài sản là đất tại Việt Nam chưa nhất quán.
  • Giá trị tài nguyên, khoáng sản hoặc các quyền về khoáng sản và dự trữ khoáng sản như dầu, khí tự nhiên và các nguồn tài nguyên không thể tái tạo tương tự có nhiều đặc điểm kinh tế, kỹ thuật khác biệt với các ngành sản xuất khác. Do khoáng sản thường nằm dưới lòng đất, biển nên các chi phí tìm kiếm, thăm dò, thẩm lượng và khai thác có những đặc thù theo quy định của ngành khai khoáng. Việc ghi nhận, đánh giá và xác định giá trị các mỏ cần xem xét đến cả yếu tố trữ lượng và hiệu quả kinh tế, ví dụ như nếu trữ lượng không đủ để vận hành thương mại thì mỏ không đủ điều kiện khai thác, vì vậy phải có một Chuẩn mực kế toán riêng để điều chỉnh các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình IAS 16 cho phép các khoản ước tính ban đầu của chi phí phá hủy, điều chuyển tài sản, hoàn trả mặt bằng và khôi phục hiện trạng khi mua tài sản được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình. VAS 03 chưa đề cập đến các khoản ước tính ban đầu của chi phí phá hủy, điều chuyển tài sản, hoàn trả mặt bằng và khôi phục hiện trạng khi mua tài sản được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình như quy định của IAS 16.

  • Các khoản ước tính ban đầu của chi phí phá hủy, điều chuyển tài sản, hoàn trả mặt bằng và khôi phục hiện trạng phát sinh khi mua hoặc sử dụng tài sản thường là các nghĩa vụ pháp lý và không thể tránh khỏi tại thời điểm cuối vòng đời tài sản. Ví dụ tập đoàn Than có nghĩa vụ hoàn nguyên môi trường sau khi khai thác than và bô xít; Tập đoàn dầu khí có trách nhiệm thu dọn mỏ sau khi khai thác dầu ngoài khơi. Nếu các chi phí này không được dự tính trước để tính vào nguyên giá TSCĐ và khấu hao dần thì doanh nghiệp sẽ không có đủ nguồn lực để trang trải, tạo ra những rủi ro tài chính trong giai đoạn nhất định.
Việc phân loại một tài sản là TSCĐ hay công cụ, dụng cụ phụ thuộc vào cách thức sử dụng tài sản của doanh nghiệp Việc phân loại một tài sản là TSCĐ hay công cụ, dụng cụ phụ thuộc vào nguyên giá của nó.

  • Ví dụ nhà máy sửa chữa ô tô có một dụng cụ chuyên dụng để sửa chữa ô tô nhưng theo quy định của Việt Nam, nếu giá trị vượt quá 30 triệu thì bắt buộc phải kế toán là TSCĐ chứ không được kế toán là công cụ, dụng cụ cho dù công ty sử dụng là tài sản đó là một công cụ lao động bình thường, điều này làm cho tài sản không được phản ánh đúng bản chất của nó.
Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp có thể được ghi nhận và trình bày theo mô hình giá gốc hoặc mô hình đánh giá lại. VAS 03 hiện nay chỉ mới quy định việc ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu của TSCĐ hữu hình đều theo mô hình giá gốc mà chưa có hướng dẫn về ghi nhận và trình bày TSCĐ hữu hình theo mô hình đánh giá lại ngoại trừ trường hợp cổ phần hóa, mang tài sản đi góp vốn hoặc giải thể, chia tách, sáp nhập.

  • Chúng ta đều biết TSCĐ có giá trị và giá trị sử dụng. Trong một số trường hợp, giá trị của TSCĐ có sự khác biệt rất lớn so với giá trị sử dụng và nếu TSCĐ luôn được ghi nhận theo giá gốc trừ khấu hao lũy kế thì có thể không phản ánh đúng năng lực của doanh nghiệp.
Giảm giá trị tài sản IAS 16 đã cho phép ghi nhận tổn thất do suy giảm giá trị TSCĐ VAS 03 hiện nay chưa đề cập đến việc ghi nhận tổn thất do suy giảm giá trị TSCĐ hữu hình.

  • Việc thiếu quy định về ghi nhận tổn thất tạo ra rủi ro lớn cho doanh nghiệp vì trong một số tình huống, giá trị còn lại của TSCĐ cao hơn rất nhiều so giá trị có thể thu hồi, thực chất doanh nghiệp đã rỗng ruột nhưng sổ sách thì vẫn phản ánh tài sản, tạo ra tình trạng lãi giả – lỗ thật.
  • việc chưa quy định về ghi nhận tổn thất tài sản là vi phạm một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản là tài sản không ghi cao hơn giá trị có thể thu hồi, đơn giản vì nếu ghi cao hơn là ghi khống, đồng thời vi phạm nguyên tắc thận trọng của kế toán.
Thời gian khấu hao Do khấu hao phụ thuộc vào cách thức sử dụng và thu hồi tài sản của từng doanh nghiệp nên thông lệ quốc tế không quy định cụ thể về thời gian khấu hao. Quy định khung thời gian khấu hao đối với các nhóm TSCĐ cụ thể.

  • Nguyên tắc chung là tài sản đã hết khấu hao thì không tiếp tục khấu hao nữa nên doanh nghiệp trong mọi trường hợp chỉ thu hồi đủ chi phí là phải dừng khấu hao nên cho dù doanh nghiệp được tự quyết định thời gian khấu hao thì xét về tổng thể cũng không làm ảnh hưởng đến mức thu hồi tài sản.

 

4. Chuẩn mực về tài sản cố định vô hình

Việt Nam hiện đã ban hành Chuẩn mực kế toán số 04 – Tài sản cố định vô hình (VAS 04) tương ứng với Chuẩn mực kế toán về tài sản cố định vô hình (IAS 38) của quốc tế. So với VAS 04, IAS 38 có một số điểm khác biệt sau đây:

Chuẩn mực Nội dung Sự khác biệt
IFRS: IAS 38 VAS: VAS 04
Tài sản cố định vô hình Phạm vi áp dụng IAS 38 loại trừ các tài sản thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản, các chi tiêu về việc thăm dò hoặc phát triển và khai thác khoáng sản, dầu, khí và các nguồn tài nguyên không tái sinh tương tự khác vì đã được áp dụng theo IFRS 6-Thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản. VAS 04 không có quy định việc loại trừ áp dụng do Việt Nam chưa ban hành Chuẩn mực riêng cho hoạt động thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản vốn có những đặt thù về mặt xác định trữ lượng và giá trị.
Phân loại quyền sử dụng đất Được phân loại là TSCĐ hữu hình Được phân loại là TSCĐ vô hình
Xác định giá trị IAS 38 cho phép sử dụng mô hình giá gốc hoặc mô hình đánh giá lại sau khi ghi nhận ban đầu. Theo VAS 04, chỉ có mô hình giá gốc được sử dụng để ghi nhận (gồm nguyên giá, giá trị hao mòn lũy kế và giá trị còn lại của tài sản cố định), tổn thất do sụt giảm giá trị không được ghi nhận do không áp dụng mô hình đánh giá lại sau ghi nhận ban đầu.
Thời gian khấu hao IAS 38 không quy định cụ thể về vấn đề này do việc khấu hao phụ thuộc vào bản chất tài sản, những tài sản có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ cần khấu hao khác với những tài sản khác, do đó thông lệ quốc tế cho phép doanh nghiệp được quyền tự chủ khi xác định thời gian khấu hao đối với từng tài sản của doanh nghiệp.
  • Theo VAS 04, tài sản cố định vô hình được ghi nhận theo quy định phải được phân bổ theo thời gian sử dụng hữu ích không quá 20 năm, trừ khi có bằng chứng thuyết phục rằng thời gian sử dụng hơn 20 năm là phù hợp.
  • Đồng thời VAS 04 cũng quy định rõ một số chi phí trước hoạt động của doanh nghiệp như chi phí liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, các hoạt động đào tạo, quảng cáo, nghiên cứu và di dời cơ sở kinh doanh được phép hoãn lại sẽ được ghi nhận và phân bổ dần vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tối đa không quá 3 năm.

 

5. Chuẩn mực về bất động sản đầu tư
Chuẩn mực Nội dung Sự khác biệt
IFRS: IAS 40 VAS: VAS 05
Bất động sản đầu tư Mô hình xác định giá trị Chuẩn mực quốc tế cho phép doanh nghiệp được quyền tự đánh
giá lại bất động sản đầu tư theo giá trị hợp lý
VAS 05 chỉ cho phép ghi nhận bất động sản đầu tư theo giá gốc.
Điều này làm cho báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam kém trung thực do một trong các mục đích nắm giữ bất động sản đầu tư là chờ tăng giá, nếu không được đánh giá lại thường xuyên thì không phản ánh đúng giá trị thực của loại tài sản này.

 

6. Chuẩn mực về Thuê tài sản

VAS 06 được xây dựng dựa trên IAS 17 hơn 10 năm trước đây. Tuy nhiên, IASB đã ban hành IFRS 16 để thay thế cho IAS 17 và sẽ có hiệu lực từ 1/1/2019 với nhiều sự thay đổi. Vì vậy, VAS 06 hiện là một Chuẩn mực có sự khác biệt đáng kể so với IFRS 16 khi kế toán tại bên đi thuê, cụ thể như sau:

Chuẩn mực Nội dung Sự khác biệt
IFRS: IFRS 16 VAS: VAS 06
Thuê tài sản Phân loại thuê tài chính và thuê hoạt động
  • IFRS 16 đã loại bỏ việc phân loại hợp đồng thuê tài chính và thuê hoạt động, theo đó chỉ phân biệt hợp đồng thuê tài sản hay hợp đồng thuê sử dụng dịch vụ.
  • Việc thay đổi trong quy định này còn nhấn mạnh về tiêu chí của tài sản là không phụ thuộc vào quyền sở hữu mà thay vào đó nhấn mạnh về quyền kiểm soát để mang lại lợi ích kinh tế mới là tiêu chuẩn để ghi nhận tài sản.
Bên đi thuê chỉ được phản ánh tài sản thuê tài chính trên báo cáo tài chính còn đối với tài sản thuê hoạt động thì không được phản ánh do bên đi thuê không có quyền sở hữu.
Xác định nợ thuê phải trả việc xác định nợ thuê phải trả trong tương lai bằng cách áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu, kể cả đối với tài sản thuê hoạt động. VAS 06 không cho phép thực hiện điều này.
Giá trị sau ghi nhận lần đầu của thuê tài sản đối với bên thuê IFRS 16 yêu cầu định kỳ phải đánh giá tổn thất đối với tài sản cho thuê bằng cách áp dụng chuẩn mực IAS 36 – Tổn thất tài sản. Do chưa ban hành Chuẩn mực tương ứng về tổn thất tài sản nên VAS 06 chưa có quy định này để xem xét, đánh giá và ghi nhận khoản tổn thất tài sản.

 

7. Chuẩn mực về các khoản đầu tư vào công ty liên kết và liên doanh

Việt Nam hiện đã ban hành 02 chuẩn mực kế toán gồm chuẩn mực về các khoản đầu tư vào công ty liên kết (VAS 07) và chuẩn mực thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh (VAS 08). Hiện nay, IASB đã ban hành 3 Chuẩn mực có liên quan gồm: IAS 28 phiên bản mới gồm đối tượng áp dụng là công ty liên kết và liên doanh; IFRS 11 – Thỏa thuận liên doanh và IFRS 12 – Thuyết minh về lợi ích trong các đơn vị khác. Sự khác biệt chính giữa Việt Nam và quốc tế như sau:

Chuẩn mực Nội dung Sự khác biệt
IFRS: IAS 28 – IFRS 11IFRS 12  VAS: VAS 07 – VAS 08
Khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh Phạm vi áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu Theo IAS 27 – Báo cáo tài chính riêng và hợp nhất, phương pháp vốn chủ sở hữu áp dụng cho báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp độc lập.
Phương pháp vốn chủ sở hữu cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn phương pháp giá gốc và phù hợp với Luật doanh nghiệp vì yêu cầu trình bày giá trị khoản đầu tư tương ứng với phần tài sản thuần nhà đầu tư sở hữu trong công ty liên doanh, liên kết.
Do VAS 07 ban hành cách đây 15 năm nên mới chỉ áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu cho báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo tài chính của từng doanh nghiệp vẫn áp dụng phương pháp giá gốc
Ghi nhận các khoản tổn thất Chuẩn mực quốc tế yêu cầu nhà đầu tư phải ghi nhận khoản lỗ do giảm giá trị khoản đầu tư thuần (ngoài khoản lỗ thông thường của công ty liên doanh, liên kết) theo quy định của IAS 36. Việt Nam áp dụng quy định về dự phòng đầu tư tài chính.
Quy định về dự phòng đầu tư của Việt Nam (theo Thông tư 228 và Thông tư 89) có sự khác biệt lớn với chuẩn mực quốc tế.

 


Xem tiếp Phần 04 – Sự khác biệt cơ bản giữa IFRS và VAS


Ketoanstartup.com

Xem thêm

Phần 01 – Sự khác biệt cơ bản giữa IFRS và VAS

Phần 02 – Sự khác biệt cơ bản giữa IFRS và VAS

0 0 votes
Article Rating
Tags:
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x