Sau khi khép lại nhóm tài khoản Phải thu (TK 131 – 141) ở các bài trước, chuỗi bài Thông tư 99/2025/TT-BTC chuyển sang nhóm Hàng tồn kho – một trong những phần hay gây lúng túng nhất với kế toán mới vì liên quan trực tiếp đến giá vốn, lợi nhuận và thuế GTGT. Bài này diễn giải 13 nguyên tắc kế toán hàng tồn kho chung, áp dụng cho toàn bộ nhóm TK 151-158, và đi sâu vào TK 151 – Hàng mua đang đi đường, tài khoản đầu tiên của nhóm.
📋 Mục Lục Bài Viết
Hàng Tồn Kho Gồm Những Gì Và Nguyên Tắc Ghi Nhận
Theo Thông tư 99, hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản mua vào để sản xuất hoặc để bán trong kỳ kinh doanh thông thường, bao gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên liệu – vật liệu, công cụ – dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm và bán thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi đi bán, và nguyên liệu – vật tư tại kho bảo thuế.
Một điểm đáng chú ý: vật tư, thiết bị, phụ tùng thay thế có thời gian dự trữ trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường, hay sản phẩm dở dang có thời gian sản xuất vượt quá một chu kỳ, thì không được trình bày là hàng tồn kho trên Báo cáo tình hình tài chính mà phải trình bày là tài sản dài hạn. Ví dụ: một doanh nghiệp cơ khí dự trữ sẵn phụ tùng thay thế dùng trong 18 tháng tới thì phần phụ tùng này ghi nhận là tài sản dài hạn, không phải hàng tồn kho ngắn hạn.
Thông tư cũng nhấn mạnh: hàng hóa, vật tư, tài sản nhận giữ hộ, nhận ký gửi, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, nhận gia công… không thuộc quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp thì không được ghi nhận là hàng tồn kho trên bảng cân đối, mà chỉ theo dõi ở sổ chi tiết và thuyết minh Báo cáo tài chính. Đây là lỗi khá phổ biến ở các doanh nghiệp nhận gia công hoặc làm đại lý ký gửi.
Định Giá, Dự Phòng Và Phương Pháp Tính Giá Xuất Kho
Việc xác định giá gốc, giá trị thuần có thể thực hiện được, lập dự phòng giảm giá và ghi nhận chi phí liên quan đến hàng tồn kho phải thực hiện theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho. Các khoản thuế, phí không được hoàn lại (thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên…) phải nộp khi mua, khai thác, sản xuất hàng tồn kho thì được tính vào giá trị hàng tồn kho.
Tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán, nếu giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc (do hàng hư hỏng, lỗi thời, giá bán giảm…), doanh nghiệp phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo hướng dẫn tại TK 229 – Dự phòng tổn thất tài sản.
Về phương pháp tính giá xuất kho, Thông tư 99 cho phép lựa chọn một trong 5 phương pháp: giá đích danh, bình quân gia quyền, nhập trước – xuất trước (FIFO), giá bán lẻ (áp dụng cho siêu thị, bán lẻ), và chi phí chuẩn (áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất). Doanh nghiệp căn cứ đặc điểm, số lượng, chủng loại hàng tồn kho để lựa chọn và phải áp dụng nhất quán giữa các kỳ kế toán, trừ khi có thay đổi chính sách kế toán.
Một quy định thực tế đáng lưu ý về khuyến mại: nếu xuất hàng tồn kho khuyến mại không thu tiền và không kèm điều kiện mua hàng, giá trị hàng khuyến mại ghi vào chi phí bán hàng. Nhưng nếu khuyến mại có điều kiện (ví dụ mua 2 tặng 1), doanh nghiệp phải phân bổ doanh thu cho cả hàng bán và hàng khuyến mại, phần giá trị hàng tặng tính vào giá vốn hàng bán.
TK 151 – Hàng Mua Đang Đi Đường: Nguyên Tắc Và Cách Hạch Toán
TK 151 dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của hàng hóa, vật tư (nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ) mua ngoài đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng còn đang đi đường – tức chưa về nhập kho tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán.
Hàng hóa, vật tư được coi là đang đi đường trong hai trường hợp: (1) đã thanh toán tiền hoặc đã chấp nhận thanh toán nhưng còn để ở kho người bán, bến cảng, bến bãi, kho ngoại quan hoặc đang trên đường vận chuyển; (2) đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nghiệm, kiểm nhận nhập kho.
Quy trình thực tế: hàng ngày khi nhận được hóa đơn mua hàng nhưng hàng chưa về nhập kho, doanh nghiệp chưa ghi sổ mà đối chiếu với hợp đồng kinh tế rồi lưu hóa đơn vào tập hồ sơ riêng gọi là “Hàng mua đang đi đường”. Trong kỳ, nếu hàng về nhập kho, kế toán ghi thẳng vào các TK 152, 153, 156… Chỉ khi đến thời điểm kết thúc kỳ kế toán mà hàng vẫn chưa về, doanh nghiệp mới ghi nhận vào TK 151.
Kết cấu TK 151: bên Nợ ghi trị giá hàng hóa, vật tư đã mua đang đi đường; bên Có ghi trị giá hàng đã về nhập kho hoặc đã chuyển giao thẳng cho khách hàng; số dư bên Nợ phản ánh trị giá hàng đã mua nhưng còn đang đi đường tại thời điểm cuối kỳ.
Ví dụ minh họa: Công ty X nhận hóa đơn mua nguyên vật liệu trị giá 100 triệu đồng (thuế GTGT 10% được khấu trừ) vào ngày 30/9, nhưng hàng còn ở kho người bán, chưa vận chuyển về. Kế toán ghi: Nợ TK 151: 100 triệu, Nợ TK 133: 10 triệu, Có TK 331: 110 triệu. Sang đầu tháng 10, hàng về nhập kho, kế toán ghi: Nợ TK 152: 100 triệu, Có TK 151: 100 triệu.
Thông tư 99 cũng hướng dẫn các tình huống khác: nếu sang kỳ sau hàng đi đường được giao thẳng cho khách hàng (không nhập kho) thì ghi Nợ TK 157, 632 / Có TK 151; nếu hàng đi đường bị hao hụt, mất mát phát hiện khi về nhập kho thì ghi nhận giá trị mất mát vào TK 138 – Phải thu khác (1381, 1388).
Câu Hỏi Thường Gặp
Hàng tồn kho nhận giữ hộ, nhận gia công có ghi vào TK 151-158 không?
Không. Vì không thuộc quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp, các loại hàng nhận giữ hộ, nhận ký gửi, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, nhận gia công chỉ được mở sổ chi tiết theo dõi riêng và thuyết minh trên Báo cáo tài chính, không ghi nhận là hàng tồn kho trên bảng cân đối.
Khi nào thì ghi nhận vào TK 151, khi nào bỏ qua không cần ghi?
Chỉ ghi vào TK 151 khi đến thời điểm kết thúc kỳ kế toán mà hàng mua vẫn chưa về nhập kho. Trong kỳ, nếu hóa đơn về trước và hàng cũng về nhập kho luôn trong cùng kỳ, kế toán ghi thẳng vào TK 152, 153, 156… mà không cần qua TK 151.
Doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng cùng một phương pháp tính giá xuất kho cho mọi mặt hàng không?
Không bắt buộc giống nhau cho mọi mặt hàng, nhưng với từng mặt hàng cụ thể thì phải áp dụng nhất quán phương pháp đã chọn giữa các kỳ kế toán, trừ khi doanh nghiệp có thay đổi chính sách kế toán và phải thuyết minh rõ lý do thay đổi.
Kết Luận
Nắm vững 13 nguyên tắc kế toán hàng tồn kho và cách hạch toán TK 151 là nền tảng để tiếp tục các tài khoản tiếp theo trong nhóm hàng tồn kho (TK 152 – Nguyên liệu vật liệu, TK 153 – Công cụ dụng cụ…) mà chuỗi bài Thông tư 99 sẽ lần lượt trình bày trong các kỳ tới. Xem lại bài trước về TK 141 – Tạm ứng cho người lao động, hoặc theo dõi toàn bộ chuỗi bài Thông tư 99/2025/TT-BTC tại chuyên mục Kế toán Việt Nam trên ketoanstartup.com.
