Chuỗi bài về Thông tư 99/2025/TT-BTC đã đi qua Điều 23 về sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp. Bài này nói về một tình huống ngược lại: khi doanh nghiệp không còn khả năng tiếp tục hoạt động. Điều 24 của Thông tư quy định rõ khi nào một doanh nghiệp bị coi là không đáp ứng giả định hoạt động liên tục, và kế toán viên phải làm gì với sổ sách, tài sản, nợ phải trả trước khi lập Báo cáo tài chính (BCTC) trong tình huống này.
📋 Mục Lục Bài Viết
Khi Nào Doanh Nghiệp Bị Coi Là Không Hoạt Động Liên Tục?
Theo khoản 1 Điều 24, doanh nghiệp bị coi là không đáp ứng giả định hoạt động liên tục nếu dự kiến giải thể, phá sản, ngừng sản xuất kinh doanh hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động trong thời hạn tối đa 12 tháng kể từ thời điểm kết thúc kỳ kế toán. Nếu có yếu tố không chắc chắn trọng yếu (ví dụ đang trong quá trình thương lượng nợ, chờ phán quyết tòa án…), kế toán vẫn phải thuyết minh rõ trên BCTC dù chưa chắc chắn hoàn toàn.
Tuy nhiên, khoản 2 đưa ra 3 trường hợp KHÔNG bị coi là mất giả định hoạt động liên tục dù có thay đổi lớn về pháp lý: chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (kể cả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước), bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, hoặc chuyển công ty con thành đơn vị trực thuộc và ngược lại. Đây là điểm quan trọng cần phân biệt với Điều 23 – chia tách hay sáp nhập không tự động khiến doanh nghiệp phải lập BCTC theo nguyên tắc không liên tục.
Doanh Nghiệp Phải Làm Gì Khi Không Còn Hoạt Động Liên Tục?
Khoản 3 yêu cầu vẫn phải lập đủ 4 báo cáo theo bộ mẫu riêng dành cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục (mẫu B01, B02, B03, B09-DNKLT) – không dùng mẫu BCTC thông thường.
Khoản 4 là phần cốt lõi: khi giả định hoạt động liên tục không còn phù hợp, doanh nghiệp phải:
- Chuyển toàn bộ tài sản dài hạn thành tài sản ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn thành nợ ngắn hạn;
- Đánh giá lại toàn bộ tài sản và nợ phải trả (trừ trường hợp có bên thứ ba cam kết, bảo lãnh thu hồi/thanh toán theo đúng giá trị sổ sách – khoản 5);
- Ghi nhận vào sổ kế toán theo giá đánh giá lại trước khi lập Báo cáo tình hình tài chính.
Ví dụ: Công ty X có một khoản đầu tư dài hạn vào công ty liên kết, dự kiến giải thể trong 6 tháng tới. Khoản đầu tư này phải chuyển sang tài sản ngắn hạn và đánh giá lại theo giá thấp hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị có thể thu hồi, thay vì giữ nguyên giá gốc như khi hoạt động bình thường.
Nguyên Tắc Đánh Giá Lại Tài Sản Và Nợ Phải Trả
Khoản 6 quy định cụ thể cách đánh giá lại theo từng loại: hàng tồn kho, TSCĐ, chứng khoán kinh doanh, các khoản đầu tư và khoản phải thu ghi theo giá thấp hơn giữa giá gốc/giá trị còn lại và giá trị có thể thu hồi được. Ngược lại, nợ phải trả (bằng tiền, tài sản tài chính, hàng tồn kho, TSCĐ) ghi theo giá cao hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị thực tế phải thanh toán. Các khoản mục có gốc ngoại tệ đánh giá lại theo tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán.
Về kế toán, khoản 7 lưu ý hai điểm đáng chú ý cho người mới: việc trích lập dự phòng hoặc ghi nhận tổn thất tài sản được ghi giảm trực tiếp vào giá trị ghi sổ của tài sản, không hạch toán qua Tài khoản 229 (Dự phòng tổn thất tài sản); tương tự, khấu hao hoặc tổn thất TSCĐ cũng ghi giảm trực tiếp, không dùng Tài khoản 214 (Hao mòn TSCĐ) như thông thường.
Xử Lý Các Khoản Chênh Lệch Và Yêu Cầu Thuyết Minh
Khoản 8 hướng dẫn xử lý một loạt khoản mục tài chính phát sinh khi hết giả định hoạt động liên tục: trích trước chi phí cho các khoản lỗ dự kiến chắc chắn phát sinh; ghi nhận nghĩa vụ nợ phải trả kể cả khi chưa đủ hồ sơ nhưng chắc chắn phải thanh toán; kết chuyển chênh lệch đánh giá lại tài sản lũy kế và chênh lệch tỷ giá lũy kế vào thu nhập/chi phí (khác hoặc tài chính) tùy lãi hay lỗ; ghi giảm hết chi phí chờ phân bổ chưa phân bổ; công ty mẹ dừng ghi nhận lợi thế thương mại trên BCTC hợp nhất, phần chưa phân bổ tính thẳng vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
Khoản 9 yêu cầu khi lập BCTC trong trường hợp này, doanh nghiệp phải thuyết minh chi tiết về khả năng tạo tiền, khả năng thanh toán nợ phải trả theo thứ tự ưu tiên (nợ ngân sách nhà nước, nợ người lao động, nợ vay, nợ nhà cung cấp…), khả năng thanh toán cho chủ sở hữu, và thời gian dự kiến thanh toán. Đồng thời phải phân loại lại số liệu so sánh của kỳ trước để đảm bảo tính so sánh được, hoặc nếu không thể phân loại lại thì phải giải thích rõ lý do trên thuyết minh BCTC.
Câu Hỏi Thường Gặp
Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có phải áp dụng Điều 24 không?
Chỉ khi việc ngừng/thu hẹp là đáng kể và dự kiến xảy ra trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán mới thuộc phạm vi Điều 24. Tạm ngừng ngắn hạn, có kế hoạch hoạt động trở lại bình thường thường không bị coi là mất giả định hoạt động liên tục.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có phải lập BCTC theo mẫu không liên tục không?
Không. Khoản 2 Điều 24 loại trừ rõ trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, kể cả cổ phần hóa DNNN, ra khỏi diện phải áp dụng nguyên tắc không hoạt động liên tục.
Kết Luận
Điều 24 Thông tư 99/2025/TT-BTC là quy định kỹ thuật quan trọng dành cho các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ giải thể, phá sản hoặc thu hẹp đáng kể quy mô – yêu cầu chuyển toàn bộ tài sản, nợ phải trả sang ngắn hạn, đánh giá lại theo giá trị thực tế và lập BCTC theo bộ mẫu riêng. Bài tiếp theo trong chuỗi sẽ chuyển sang các Điều 25-27 về thời hạn nộp, nơi nhận và công khai Báo cáo tài chính. Xem lại Điều 23 – Sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp hoặc bài Tổng quan Thông tư 99/2025/TT-BTC để nắm toàn bộ chuỗi bài.
